Các rối loạn lo âu gặp phổ biến trong lâm sàng tâm thần học, chiếm tỷ lệ 30%  các trường hợp điều trị nội trú, và ước tính khoảng  20% dân số thế giới mắc rối loạn này. Rối loạn lo âu lan tỏa thường gặp trong thực hành đa khoa, làm suy giảm chất lượng hoạt động nghề nghiệp xã hội, có xu hướng trở thành mạn tính, tiến triển nặng lên nếu không được điều trị. Rối loạn này thường dễ bị nhầm lẫn, tỉ lệ được chẩn đoán đúng là 28%. Hơn nữa, tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn lo âu lan tỏa có sự thay đổi theo lịch sử phát triển của khoa học y học, chính vì vậy đã tạo ra nhiều quan điểm khác nhau trong chẩn đoán và điều trị. Ở Việt Nam, cho đến thời điểm này chưa có những nghiên cứu sâu về điều trị rối loạn lo âu lan tỏa.

Đối tượng nghiên cứu

– Tiêu chuẩn lựa chọn: Tất cả những bệnh nhân được chẩn đoán xác định rối loạn lo âu lan tỏa theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ICD 10, trên 18 tuổi, điều trị nội trú tại Viện Sức khoẻ Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai, trong thời gian từ tháng 9/2013 đến tháng 7/2014.

– Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Những bệnh nhân có bệnh nội khoa, chuyển hóa, tổn thương thực thể não kèm theo, những bệnh nhân nghiện chất, lạm dụng chất.

+ Những bệnh nhân không tự nguyện tham gia nghiên cứu.

Các phương thức điều trị

Có rất nhiều nghiên cứu về điều trị rối loạn lo âu lan tỏa được tiến hành trong 3 thập kỷ qua. Các nhà nghiên cứu nhận thấy có nhiều loại thuốc tác dụng tốt trong rối loạn lo âu lan tỏa, trong đó lựa chọn hàng đầu là các benzodiazepin và các thuốc chống trầm cảm. Việc lựa chọn thuốc cần cân nhắc đến tác dụng không mong muốn của thuốc, thời gian tối thiểu cải thiện được triệu chứng  và sự có mặt của các rối loạn phối hợp.

Tâm lý trị liệu có vai trò rất lớn làm thay đổi tiến triển của bệnh. Đặc biệt ở những bệnh nhân có sang chấn tâm lý kèm theo hoặc những bệnh nhân có rối loạn nhân cách, việc áp dụng tâm lý trị liệu là không thể thiếu được. Tâm lý trị liệu giúp thay đổi nhận thức của bệnh nhân về lo âu của họ, thay đổi cách đánh giá sang chấn tâm lý theo hướng tích cực, giúp cho bệnh nhân có kỹ năng đối phó với khó khăn, nguy hiểm, đe dọa. Sự trợ giúp tâm lý trong giai đoạn bệnh ổn định làm giảm đi rất nhiều nguy cơ tái phát bệnh của bệnh nhân.

Đặt lịch khám và Tư vấn